Chồng có quyền ly hôn khi vợ đang mang thai con của người tình không?

Tôi và cô ấy kết hôn hợp pháp theo quy định luật pháp. Trong quá trình sống chung , tôi phát hiện vợ ngoại tình, hiện nay vợ tôi đang mang thai. Tuy nhiên tôi cho rằng đứa con đang trong bụng vợ tôi là của cô ấy với người đàn ông kia, mà không phải là con của tôi. Hiện giờ, tôi muốn ly hôn vợ tôi. Vậy trong trường hợp của tôi, tôi có được quyền ly hôn vợ tôi hay không? Tôi phải làm gì để tiến hành thủ tục ly hôn này?

chia-tai-san-say-ly-hon

Căn cứ vào một số thông tin mà bạn đã cung cấp, áp dụng quy định của luật pháp hiện hành, chúng tôi đưa ra một số ý kiến tư vấn như sau:

Luật pháp luôn khuyến khích và tạo điều kiện để 2 bên hòa giải ở cơ sở và hòa giải tại Tòa án để hàn gắn các bất đồng, tìm được tiếng nói chung trong quan hệ hôn nhân gia đình. Khi phương pháp hòa giải không thể giải quyết được vấn đề còn mâu thuẫn giữa 2 bên, thì dựa vào thông tin mà bạn chia sẻ và những quy định pháp luật có liên quan, chúng tôi đưa ra một vài quan điểm pháp lý như sau:

Người chồng có quyền ly hôn khi vợ đang mang thai?

Quyền được yêu cầu ly hôn là quyền nhân thân gắn liền với người vợ và chồng và không thể chuyển giao cho người khác. Quyền này được pháp luật ghi nhận để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của vợ và chồng. mặc dù thế, trong một số trường hợp đặc biệt, pháp luật vẫn hạn chế quyền được yêu cầu ly hôn của người chồng. Cụ thể, căn cứ vào quy định trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì: Chồng không có quyền được yêu cầu ly hôn đối với trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi..

Do vậy, đối với trường hợp của bạn, dù bạn khẳng định là: đứa trẻ trong bụng của vợ bạn không phải con của bạn tuy nhiên bạn cũng không có quyền ly hôn với cô ấy tại thời điểm hiện tại vì bạn đã bị hạn chế quyền yêu cầu ly hôn căn cứ vào quy định nêu trên (pháp luật quy định như thế nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi của bà mẹ và trẻ em trong quan hệ hôn nhân gia đình)

Khi nào bạn có quyền ly hôn với vợ?

Luật pháp chỉ hạn chế quyền ly hôn của người chồng khi người vợ đang mang thai tuy nhiên người vợ lại không bị hạn chế vì quy định nêu trên. Tuy người vợ đang mang thai tuy nhiên họ vẫn có quyền được yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, và Tòa án có thể chấp nhận cho người vợ ly hôn khi đảm bảo những căn cứ ly hôn theo đúng quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và thực hiện đúng các thủ tục theo quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự. Như thế, đối với trường hợp này, bạn có thể đề nghị người vợ chủ động yêu cầu giải quyết thủ tục ly hôn tại Tòa án.

Hơn nữa, khi vợ bạn không đồng ý ly hôn trong khi đó, việc ngoại tình của vợ bạn khiến bạn cảm thấy căng thẳng, khó chịu thì cả 2 nên ly thân để tránh mâu thuẫn không cần thiết và vợ bạn cũng cần được đảm bảo sức khỏe khi mang thai. Tới khi vợ bạn sinh con được 12 tháng tuổi, thì quyền yêu cầu ly hôn của bạn sẽ không bị hạn chế theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và bạn có thể ra Tòa để giải quyết vấn đề ly hôn của mình.

Để được tư vấn thêm về các thủ tục và quy định của pháp luật hãy gọi ngay tới Hotline: 0965 15 13 11 – 0903 481 181

Advertisements

Vợ có được hưởng di sản khi đang ly hôn thì chồng mất?

Do bản án ly hôn của Tòa án đối với vợ chồng chưa có hiệu lực pháp luật, vì thế về mặt pháp lý, hai người đó vẫn là vợ chồng.

Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định về việc thừa kế đối với trường hợp vợ, chồng đã chia tài sản chung, đang làm thủ tục xin ly hôn, đã kết hôn với người khác thì:

– Đối với trường hợp vợ, chồng đã chia tài sản chung khi cuộc sống hôn nhân còn tồn tại mà sau đó 1 người chết thì người còn sống vẫn được hưởng tài sản thừa kế.

– Đối với trường hợp vợ, chồng xin ly hôn mà chưa được hay đã được Tòa án cho ly hôn bằng bản án hay quyết định chưa có hiệu lực pháp lý, khi 1 người chết thì người còn sống vẫn được thừa kế khối di sản.

– Người đang là vợ hoặc chồng của 1 người tại thời điểm người đó chết thì dù sau đó đã kết hôn với người khác vẫn được hưởng thừa kế di sản.

chia-tai-san-khi-chong-chet

Tài sản chung của 2 vợ chồng

1.Tài sản chung của 2 vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, do thu nhập do lao động, do hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, hay lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ một số trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hay được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi đăng ký kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ những trường hợp vợ hay chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hay có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2.Tài sản chung của 2 vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được sử dụng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3.Đối với trường hợp không có chứng cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của từng bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.

– Một số người thừa kế theo luật pháp được quy định theo thứ tự dưới đây:

a) Hàng thừa kế thứ 1 gồm có: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ 2 gồm có: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ 3 gồm có: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

– Người nào thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

– Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, khi không còn ai ở hàng thừa kế trước vì đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hay từ chối nhận di sản.

Với những quy định nói trên thì người vợ (chưa kịp ly hôn thì chồng chết) hoàn toàn có quyền được hưởng di sản thừa kế của chồng. Nếu chia di sản thừa kế, người vợ sẽ thuộc hàng thừa kế thứ 1 cùng với cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi (nếu có) của người chồng. Di sản sẽ được chia đều cho một số người này.

Để được tư vấn thêm về thủ tục lập di chúc và thủ tục thừa kế di sản hay gặp bất kỳ thắc mắc nào bạn hãy gọi ngay tới Hotline 0965 15 13 11 – 0903 481 181 để được tư vấn kịp thời và miễn phí.

Hỏi về điều kiện ly hôn

Việc xác định mâu thuẫn trầm trọng của hai vợ chồng được thể hiện như thế nào trong những văn bản pháp luật về hôn nhân gia đình, chi tiết như sau:

Câu hỏi yêu cầu luật sư tư vấn: hiện tại vợ chồng tôi chung sống với nhau được 7 năm. Cách đây 1 tháng vợ tôi có mẫu thuẫn với tôi và muốn ly hôn. Tôi biết vợ tôi chỉ ý nghĩ nhất thời, bởi hiện tại hai vợ chồng tôi có với nhau hai con chung. Tôi nuôi con riêng của vợ từ thời còn 1 tuổi, cháu rất thương tôi.

Hiện tại ba đứa con tôi do tôi nuôi dưỡng. Xin luật sư tư vấn cho tôi bởi vợ tôi đang nộp đơn ly hôn đơn phương. Tôi không đồng ý ly hôn có được không?

dieu-kien-ly-hon-don-phuong-1

Công ty luật Oceanlaw tư vấn cho bạn như sau:

Đối với trường hợp anh không đồng ý ly hôn và tòa án xác định không đủ chứng cứ để ly hôn theo Quy định tại Điều 89 Luật HNGĐ 2000 về Căn cứ cho ly hôn.

  1. Toà án xem xét yêu cầu ly hôn, khi xét thấy tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được thì Toà án quyết định giải quyết cho ly hôn.
  2. Đối với trường hợp vợ hay chồng của người bị Toà án tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Toà án giải quyết cho ly hôn.”

Về tình trạng hôn nhân trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được được hướng dẫn cụ thể như sau:

 a) Hôn nhân được coi là tình trạng của vợ chồng trầm trọng nếu:

+   Vợ, chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau như người nào chỉ biết bổn phận người đó, bỏ mặc người vợ hoặc người chồng muốn sống ra sao thì sống, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, hoà giải nhiều lần.

+   Vợ hoặc chồng luôn có hành vi ngược đãi, hành hạ nhau, như thường xuyên đánh đập, hoặc có hành vi khác xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm và uy tín của nhau, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, đoàn thể nhắc nhở, hoà giải nhiều lần.

+   Vợ chồng không chung thuỷ với nhau ví dụ như có quan hệ ngoại tình, đã được người vợ hay người chồng hay bà con thân thích của họ hay cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, khuyên bảo tuy nhiên vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình;

b) Để có cơ sở nhận định đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được, thì phải căn cứ vào tình trạng hiện tại của vợ chồng đã đến mức trầm trọng.

Nếu thực tế cho thấy đã được nhắc nhở, hoà giải nhiều lần, nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình hoặc vẫn tiếp tục sống ly thân, bỏ mặc nhau hoặc vẫn tiếp tục có hành vi ngược đãi hành hạ, xúc phạm nhau, thì có căn cứ để nhận định rằng đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được.

c) Mục đích của hôn nhân không đạt được là không có tình nghĩa vợ chồng; không bình đẳng về nghĩa vụ và quyền giữa vợ, chồng; không tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín của vợ, chồng; không tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của vợ, chồng; không giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển mọi mặt.

1. Tòa án trả lại đơn khởi kiện trong những trường hợp sau đây:

  1. a) Thời hiệu khởi kiện đã hết;
  2. b) Người khởi kiện không có quyền khởi kiện hoặc không có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự;
  3. c) Sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc quyết định đã có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ trường hợp vụ án mà Tòa án bác đơn xin ly hôn, xin thay đổi nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại hoặc vụ án đòi tài sản cho thuê, cho mượn, đòi nhà cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ mà Tòa án chưa chấp nhận yêu cầu do chưa đủ điều kiện khởi kiện;
  4. d) Hết thời hạn được thông báo quy định tại khoản 2 Điều 171 của Bộ luật này mà người khởi kiện không đến Tòa án làm thủ tục thụ lý vụ án, trừ trường hợp có lý do chính đáng;

đ) Chưa có đủ những điều kiện khởi kiện;

  1. e) Vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
  2. Khi trả lại đơn khởi kiện, Tòa án phải có văn bản kèm theo ghi rõ lý do trả lại đơn khởi kiện.”

Như thế là hôn nhân của anh vẫn tiếp tục duy trì. Và vợ anh sau khi bị tòa bắc bỏ đơn, nếu cô ấy muốn nộp lại đơn thì phải 1 năm sau cô ấy mới có quyền nộp lại đơn.

Để được tư vấn thêm về thủ tục ly hôn hay gặp bất kỳ thắc mắc nào bạn hãy gọi ngay tới Hotline 0965 15 13 11 – 0903 481 181 để được tư vấn kịp thời và miễn phí.

Vợ đang nuôi con nhỏ có được phép ly hôn

Theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 Điều 85 khoản 2, trong trường hợp vợ có thai hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi, thì chồng không có quyền yêu cầu ly hôn. Ta ghi nhận được ngay một số quy tắc đáng chú ý từ câu chữ của điều luật đó.

con-duoi-1-tuoi-co-duoc-ly-hon-khong

– Điều luật không được áp dụng trong trường hợp người xin ly hôn lại là người vợ. Tuy nhiên, bởi vì chồng không có quyền yêu cầu ly hôn, có vẻ như việc ly hôn do cả vợ và chồng cùng yêu cầu cũng không thể được Toà án thụ lý chừng nào người vợ còn đang mang thai hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Càng khó có thể được Toà án tiếp nhận, đơn yêu cầu của người chồng có chữ ký chấp nhận của người vợ trong hoàn cảnh đó. Trái lại, có thể đơn vẫn được tiếp nhận, nếu người đứng đơn là người vợ và đơn được nộp với sự chấp nhận của người chồng.

– Điều luật được áp dụng, ngay cả trong trường hợp người vợ đang mang thai với người khác hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi sinh ra do quan hệ xác thịt với người khác (Toà án nhân dân tối cao, về phần mình, khẳng định rằng việc “treo” quyền xin ly hôn của người chồng trong trường hợp người vợ có thai hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi phải được áp dụng mà không phân biệt tùy theo tác giả của bào thai hoặc của đứa con là người chồng hay người nào khác: xem Nghị quyết số 02 đã dẫn, 6. ). Nói chung, nếu biết rằng thai nhi hoặc trẻ được sinh ra không phải là tác phẩm của mình và muốn chấm dứt quan hệ vợ chồng, thì, trong điều kiện tạm thời không được phép nộp đơn xin ly hôn, người chồng thường chọn giải pháp cắt đứt quan hệ chung sống trên thực tế (ly thân thực tế) trong thời gian chờ đợi.

– Điều luật dường như cũng không được áp dụng trong trường hợp con chết trước khi được sinh ra hoặc sau khi được sinh ra một thời gian ngắn. Tuy nhiên, hầu như không có thẩm phán nào chấp nhận tiến hành xét xử trong trường hợp này chừng nào người vợ chưa thực sự phục hồi sức khoẻ và trạng thái tâm lý.

– Luật không phân biệt con dưới 12 tháng tuổi là con ruột hay con nuôi. Có thể hình dung: vợ nhận con nuôi dưới 12 tháng tuổi mà không có sự đồng ý của chồng; do giận dữ, người chồng quyết định xin ly hôn. Trong khung cảnh của luật thực định, dường như Toà án không thể tiếp nhận đơn xin ly hôn của người chồng trong trường hợp này, chừng nào con nuôi của người vợ chưa đủ 12 tháng tuổi.

– Luật không cấm người vợ xin ly hôn trong trường hợp người chồng nhận con nuôi dưới 12 tháng tuổi mà không có sự đồng ý của mình. Đây là giả thiết hầu như chỉ có ý nghĩa của một bài tập trường lớp, bởi người thực sự quan tâm đến việc nuôi con nuôi thường là người vợ hơn là người chồng (ngay cả trong trường hợp nuôi con nuôi để có người kế tục dòng họ bên chồng).

>> Xem thêm: Tư vấn ly hôn | Thủ tục đơn phương ly hôn | Giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài

 

Thủ tục ly hôn và những vấn đề cần quan tâm

Ly hôn là điều không ai muốn, tuy nhiên trong một vài trường hợp, khi 1 bên vợ chồng không còn yêu thương hoặc không thể dung hòa cuộc sống với nửa kia thì đó là điều khó tránh khỏi. Mặc dù vậy, số đông mọi người hiện nay không hiểu rõ về những thủ tục ly hôn hay làm thế nào để ly hôn thuận tiện và đảm bảo tối đa quyền lợi của 2 bên.

Với kinh nghiệm trong lĩnh vực tư vấn hôn nhân và gia đình, Công ty Luật Oceanlaw sẽ cung cấp đầy đủ những thông tin cần thiết về thủ tục ly hôn, trình tự ly hôn và chia tai san sau khi ly hon nhằm tiết kiệm thời gian, chi phí và đảm bảo tối đa quyền lợi thân chủ.

Thủ tục ly hôn bao gồm một số hồ sơ, giấy tờ gì?

chia-tai-san-khi-khong-dang-ky-ket-hon

Những tài liệu cần chuẩn bị khi tiến hành thủ tục ly hôn gồm có:

  •   Đơn xin ly hôn: Đơn xin ly hôn cần phải được UBND phường xác nhận về nguyên nhân ly hôn và mâu thuẫn vợ chồng. Trước khi xác nhận, tổ hòa giải tại phường phải tiến hành hòa giải 03 lần.
  •   Bản sao giấy CMND (Hộ chiếu), Hộ khẩu (bản sao).
  •   Bản chính giấy chứng nhân kết hôn (nếu có). Trong trường hợp không còn giấy chứng nhận kết hôn thì nộp bản sao có xác nhận sao y bản chính của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
  • Bản sao giấy khai sinh của các con (nếu đã có con).
  • Bản sao chứng từ, tài liệu về quyền sở hữu các tài sản (nếu có)
  • Đối với mốt ố trường hợp ly hôn có yếu tố nước ngoài, cần cung cấp tài liệu chứng minh 1 bên đang ở nước ngoài.

Trình tự giải quyết thủ tục ly hôn

– Bước 1: Bên nguyên đơn nộp hồ sơ khởi kiện về việc xin ly hôn ở TAND cấp quận/huyện nơi bị đơn đang cư trú/ làm việc.

  • Đối với trường hợp đã kết hôn với người nước ngoài và rắc rối thủ tục khi ly hôn, ví dụ như phải có ủy thác tư pháp cho cơ quan đại diện nước CHXHCN Việt Nam ở nước ngoài, cho Tòa án nước ngoài thì phải nộp đơn tại TAND cấp tỉnh.

– Bước 2: Trong thời gian 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện và Hồ sơ ly hôn hợp lệ, Tòa án sẽ thụ lý giải quyết vụ án ly hôn và thông báo nộp tiền tạm ứng án phí cho người đã nộp đơn.

-Bước 3: Dựa theo thông báo của Tòa án, đương sự nộp tiền tạm ứng án phí ở Chi cục thi hành án dân sự cấp quận/huyện và nộp lại biên lai tiền tạm ứng án phí tới Tòa án.

-Bước 4: Tòa án thụ lý vụ án, tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục chung và ra Quyết định giải quyết vụ việc ly hôn.

  • Văn phòng luật sư – Công ty luật Oceanlaw với đội ngũ luật sư giỏi, nhiều kinh nghiệm đã thụ lý với nhiều vụ án ly hôn khác nhau thành công hơn cả mong đợi, trong đó có trường hợp tiêu biểu như sau:

Thủ tục ly hôn thuận tình

tu-van-ly-hon-3

  • Giải quyết thu tuc ly hon thuan tinh khi cả hai vợ chồng đều đồng ý, trong thời gian 15 ngày làm việc, Tòa án sẽ mở phiên hòa giải cho các bên. Khi hòa giải không thành và xét thấy 2 bên thật sự tình nguyện muốn ly hôn cũng như đã thỏa thuận về những vấn đề phân chia tài sản, nuôi dưỡng con cái thì Tòa án công nhận đồng thuận ly hôn.
  • Trong thời gian 7 ngày kể từ ngày hòa giải không thành, nếu 2 bên đương sự không thay đổi nội dung yêu cầu công nhận ly hôn thuận tình thì Tòa án sẽ quyết định ly hôn thuận tình.

Thủ tục ly tục ly hôn đơn phương

  • Trường hợp thủ tục ly hôn đơn phương còn có thể coi là thủ tục ly hôn đơn phương hoặc thủ tục ly hôn vắng mặt.
  • Theo quy định của Điều 179 thì thời gian chuẩn bị xét xử vụ án ly hôn tối đa là 04 tháng, nếu vụ án có tính chất phức tạp hay có trở ngại khách quan thì được gia hạn tuy nhiên không quá 2 tháng. Trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa, trong trường hợp có lý do chính đáng, thời hạn được quy định là 2 tháng.

Để được tư vấn trực tiếp và miễn phí hãy gọi ngay tới 0965 15 13 11 – 0903 481 181

Quy luật khắt khe khi mang thai hộ

Kể từ ngày 15.3, quy định về việc sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và điều kiện nhờ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo theo quy định trong Nghị định số 10/2005/NĐ-CP của Chính phủ có hiệu lực.

Đây được coi là chính sách nhân đạo, mở ra những hy vọng cho người hiếm muộn. Mặc dù vậy, để tránh tình trạng thương mại hóa, Chính phủ đã quy định rất khắt khe.

Cơ sở y tế được phép thực hiện kỹ thuật nhờ mang thai hộ

Căn cứ vào quy định, cơ sở khám chữa bệnh, được phép thực hiện kỹ thuật mang thai hộ vì mục đích nhân đạo phải đảm bảo các điều kiện: có ít nhất một năm kinh nghiệm thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và tổng số chu kỳ thụ tinh trong ống nghiệm trong năm tối thiểu là 300 ca; chưa từng vi phạm pháp luật trong lĩnh vực khám chữa bệnh liên quan tới thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm; đáp ứng được nhu cầu và bảo đảm thuận lợi cho người dân. Như thế, căn cứ một số quy định nêu trên, tính tới nay, toàn quốc chỉ có ba cơ sở khám chữa bệnh hội đủ điều kiện thực hiện kỹ thuật này, đó là: Bệnh viện Phụ sản Trung ương; Bệnh viện Đa khoa Trung ương Huế; Bệnh viện Phụ sản Từ Dũ TP. Hồ Chí Minh.

mang-thai-ho

Quy trình rất chặt chẽ

Để thực hiện kỹ thuật đó, cặp vợ chồng vô sinh gửi hồ sơ để đề nghị thực hiện kỹ thuật mang thai hộ vì mục đích nhân đạo tới cơ sở khám chữa bệnh được phép thực hiện kỹ thuật này, bao gồm đơn và rất nhiều cam kết, xác nhận.

Cụ thể hơn:

– Giấy đề nghị được thực hiện kỹ thuật mang thai hộ;

– Giấy cam kết tự nguyện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo;

– Giấy cam đoan của người đồng ý mang thai hộ là chưa từng mang thai hộ lần nào;

– Giấy xác nhận tình trạng chưa có con chung của vợ chồng được UBND cấp xã nơi thường trú của vợ chồng nhờ mang thai hộ xác nhận;

– Giấy xác nhận của cơ sở khám chữa bệnh được thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm về việc người vợ có bệnh lý, nếu mang thai sẽ có nhiều nguy cơ ảnh hưởng tới sức khỏe, tính mạng của người mẹ, thai nhi và người mẹ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi sử dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản;

– Giấy xác nhận của cơ sở khám chữa bệnh được thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm đối với người mang thai hộ về khả năng mang thai, đáp ứng quy định với người nhận phôi theo quy định và đã từng sinh con;

– Giấy xác nhận của UBND cấp xã hay người mang thai hộ, người nhờ mang thai hộ tự mình chứng minh về mối quan hệ thân thích cùng họ hàng trên cơ sở những giấy tờ hộ tịch có liên quan và chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác của các giấy tờ này;

– Giấy xác nhận của chồng người mang thai hộ (trường hợp người phụ nữ mang thai hộ có chồng) về việc đồng ý cho mang thai hộ;

– Giấy xác nhận nội dung tư vấn về y tế của bác sĩ sản khoa;

-Giấy xác nhận nội dung tư vấn về tâm lý của người có trình độ đại học chuyên khoa tâm lý trở lên;

– Giấy xác nhận nội dung tư vấn về pháp luật của luật sư hay luật gia hay người trợ giúp pháp lý;

– Giấy thỏa thuận về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo giữa vợ chồng nhờ mang thai hộ và bên mang thai hộ.

Trong thời gian 30 ngày, kể từ ngày nhận được đủ hồ sơ theo quy định, cơ sở được cho phép thực hiện kỹ thuật mang thai hộ cần phải có kế hoạch điều trị để thực hiện kỹ thuật mang thai hộ. Khi không thể thực hiện được kỹ thuật này, phải trả lời bằng văn bản, đồng thời nêu rõ lý do tại sao.

Để hoàn tất những thủ tục giấy tờ nêu trên thật không đơn giản với những cặp vợ chồng vô sinh. Hơn nữa, nhiều cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ và người mang thai hộ cần được tư vấn về y tế, pháp lý và tâm lý.

Khác biệt quan niệm kết hôn với người nước ngoài

Việt Nam loan báo sẽ lần đầu tiên thành lập 1 công ty tư vấn hôn nhân quốc tế tại HCM để bảo vệ quyền lợi của phụ nữ.

Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm nói đề án này sẽ trình cho Thủ tướng xem xét trong thời gian tới

Số lượng người Việt đăng ký kết hôn với người nước ngoài đã tăng lên đáng kể trong một vài năm gần đây, và trở thành vấn đề gây ra nhiều tranh cãi.

PGS. TS. Trần Thị Kim Xuyến cho biết lẽ ra cần thành lập 1 công ty tư vấn từ lâu.

Bà Kim Xuyến hiện hiện là Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu, Tư vấn Phát triển Xã hội thuộc Đại học Khoa học Xã hội – Nhân văn TP. HCM.

Bà cũng khẳng định có sự khác biệt giữa văn hóa giữa miền Nam và miền Bắc trong việc kết hôn với người nước ngoài.

Trần Thị Kim Xuyến:Cái nhìn của tôi hơi khác so với mọi người. Thông tin tôi có không cho thấy tất cả những cô gái kết hôn với người nước ngoài là xấu như mọi người vẫn nghĩ.

dang-ky-ket-hon-voi-nguoi-nuoc-ngoai-9

Có một số trường hợp không được tốt, tuy nhiên cũng chỉ là cá biệt. Dữ liệu tôi có cho thấy tỉ lệ người kết hôn với người nước ngoài không bi đát như vậy.

Trong nhóm người kết hôn, có 2 loại: thông qua con đường môi giới, rủi ro lớn hơn. Còn trường hợp được bạn bè, người thân, sau khi có quan hệ bên đó rồi giới thiệu, thì tốt hơn.

PV:Ở Việt Nam đã có một số cơ quan môi giới hôn nhân chưa, thưa bà?

Ở Việt Nam không có cơ quan môi giới, tuy nhiên có mạng lưới người làm môi giới, có liên hệ với những công ty môi giới ở nước ngoài. Một số trường hợp như thế, tỉ lệ gặp bất trắc lớn hơn số còn lại.

Trước tiên, họ không biết về văn hóa, pháp luật nơi họ sẽ tới, không biết về đối tác là người thế nào. Do đó khi họ tới, có thể gặp một số trường hợp không như mong muốn, như người bị tâm thần, quá lớn tuổi.

Tuy nhiên thực ra, như ở Đài Loan, tình hình đó chỉ có ở vài năm đầu. Bây giờ tỉ lệ rủi ro tại Đài Loan có giảm đi hơn so với ở Hàn Quốc, vì ở Hàn Quốc, sự kiểm soát không chặt như tại Đài Loan.

PV:Bà đánh giá như thế nào về ý tưởng thành lập 1 công ty môi giới chính thức?

Lẽ ra phải thành lập trung tâm như thế từ lâu. Trên thực tiễn, Hội Liên hiệp Phụ nữ, cách đây 3 hay 4 năm, đã có chủ trương, tuy nhiên những trung tâm này chưa hoạt động được mấy. 1 trung tâm như thế không chỉ làm môi giới, mà họ còn phải tập huấn cho những cô gái kỹ năng sống, kỹ năng tổ chức gia đình, văn hóa nơi sẽ tới, … Hiện giờ ở phía Nam cũng đã có một vài chương trình tính đến lớp tập huấn tương tự.

PV: Bao nhiêu công ty như đề án mới hiện nay mới đủ, thưa bà?

Tôi không biết bao nhiêu mới là đủ. Tuy nhiên chúng nên được thành lập ở nhiều tỉnh.

PV:Theo bà thì tại sao phụ nữ trẻ lại muốn kết hôn với người nước ngoài?

Nói chung thanh niên Việt Nam có mong muốn được hưởng cuộc sống tốt đẹp hơn. Tại khu vực phía Bắc, người ta có con đường khác: họ tìm cách ra nước ngoài, tuy nhiên là kiếm việc, ký những hợp đồng việc làm.

Trái lại trong Nam, ngoài 2 nhóm nhỏ đi kiếm việc, nhiều cô có xu hướng kết hôn. Kinh tế tất nhiên là yếu tố tác động. Dù vậy cách họ ra đi khác nhau giữa Nam và Bắc, cho thấy còn có những yếu tố văn hóa. Nói kinh tế khó khăn, thực tình bản đồ nghèo ở những tỉnh miền núi phía Bắc cao hơn nhiều. Trong miền Nam, tỉ lệ hộ nghèo cũng có tuy nhiên chủ yếu mang tính bấp bênh, chứ họ không đến mức như vùng núi phía Bắc.

Ở 6 tỉnh miền Nam tôi làm nghiên cứu, với những cô gái, nếu môi giới cho họ lấy chồng khác tỉnh, khác xã hoặc khác quốc gia, với họ cũng chẳng khác gì. Và họ có hình ảnh rất tốt về những cuộc hôn nhân với người nước ngoài, nghĩa là gia đình nào có người như vậy thì thường khá giả hơn.

Hơn nữa, đặc tính người Nam Bộ cởi mở hơn so với ngoài Bắc, họ dễ dàng chấp nhận những mô hình, hành vi khác. Có lẽ cũng vì địa lý. Làng ở miền Bắc đoàn kết với nhau, lũy tre bao bọc, vì thế hành vi người này bị kiểm soát bởi người khác. Ai đó định làm khác đi, những ý kiến xung quanh làm cho họ phải điều chỉnh theo số đông.

Ttrong miền Nam, họ sống rải ra, sự kiểm soát không chặt như thế, vì vậy người ta tự do hơn trong hành vi. Từ thanh niên tới người lớn tuổi, đều có những quan niệm thoáng, tức là có kết hôn với người nước ngoài cũng chả sao. Nếu cô con gái trả hiếu cho bố mẹ, thì hoan nghênh thôi. Họ xem việc người con, dù đi làm hoặc lấy chồng, mà đem lợi ích kinh tế cho gia đình, thế là con có hiếu. Việc có hiếu được cộng đồng ủng hộ.