Kết hôn với chồng công an cần điều kiện gì?

Mình và bạn trai quen nhau cũng lâu và có ý định đi đến kết hôn với nhau, bạn trai mình làm trong ngành công an. Nhưng bên ngoại mình có cô với chú đi nước ngoài theo dạng bảo lãnh thân nhân. Vậy cho mình hỏi như vậy mình và bạn trai mình có đăng ký kết hôn được với nhau không và có bị ảnh thưởng gì đến hai bên không? Mong luật sư trả lời và giải đáp thắc mắc cho mình, xin chân thành cảm ơn!

Nội dung tư vấn:
Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình đến Oceanlaw. Với thắc mắc của bạn, Công ty luật Oceanlaw xin được đưa ra quan điểm tư vấn của mình như sau:
Bạn và người yêu làm trong ngành công an có ý định đi tới kết hôn với nhau thì phải đáp ứng một số điều kiện:
–  Thứ nhất là đáp ứng những quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
–  Thứ hai là phải đáp ứng quy định về điều kiện đang ký kết hôn của ngành công an nhân dân.
1.    Thứ nhất, những quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 về điều kiện kết hôn
Luật hôn nhân gia đình 2014 quy định về Điều kiện kết hôn tại Điều 8, theo đó hai bạn muốn kết hôn với nhau phải đủ các điều kiện sau:
– Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;
– Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;
–  Không bị mất năng lực hành vi dân sự;
– Việc kết hôn không thuộc 1 trong những trường hợp cấm kết hôn sau:
a) Kết hôn giả tạo, ly hôn giả ;
b) Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn;
c) Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ;
d) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa một số người cùng dòng máu về trực hệ; giữa một số người có họ trong phạm vi 3 đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng” (khoản 2 Điều 5).
2. Thứ 2 là phải đáp ứng quy định về điều kiện  kết hôn của ngành công an nhân dân
Do có các đặc thù riêng về vấn đề bí mật và an ninh quốc gia, trước khi  kết hôn với người trong ngành công an bạn và gia đình bạn sẽ phải thẩm tra lý lịch 3 đời về các điều kiện cơ bản:
– Gia đình làm tay sai cho chế độ phong kiến, Nguy quân, Ngụy quyền;
– Bố mẹ hay bản thân có tiền án hay đang chấp hành án phạt tù;
– Gia đình hay bản thân theo Đạo thiên chúa, Cơ đốc, Tin lành…;
– Gia đình hoặc bản thân là người dân tộc Hoa;
– Bố mẹ hay bản thân là người nước ngoài (kể cả đã nhập tịch)
Hơn nữa còn các quy định khác tuy thế tùy thuộc vào địa phương cuả bạn.
Bạn trai bạn phải tự viết đơn xin tìm hiểu gia đình, viết hai đơn, một đơn nộp cho đơn vị công tác, một đơn nộp cho Phòng tổ chức cán bộ. Trong thời gian tìm hiểu từ ba tới sáu tháng, tùy thuộc vào mức độ tình cảm của hai bên.
Sau đó Phòng Tổ chức cán bộ sẽ thẩm tra, xác minh người sẽ dự định cưới và tất cả những người thân trong gia đình tại nơi sinh sống và nơi làm việc. Thời gian thẩm tra, xác minh từ 2 đến bốn tháng, Trường hợp không có gì trở ngại thì Phòng Tổ chức cán bộ sẽ gửi Thông báo cho phép kết hôn tới đơn vị công tác, lúc đó các bên mới tiến hành đăng ký kết hôn và tổ chức cưới.
Khi đủ 2 điều kiện trên và bên ngoại của bạn có cô với chú đi nước ngoài theo dạng bảo lãnh thân nhân thì bạn và người yêu của bạn làm trong ngành công an kết hôn được với nhau và không bị ảnh thưởng gì tới hai bên.
Để được tư vấn thêm thì bạn hãy liên lạc đến hotline  0965 15 13 11

Thời gian giải quyết ly hôn

Tôi đang làm thủ tục ly hôn. Tôi nghe nói có luật mới, xin cho biết quy định của pháp luật về quy trình khởi kiện và thời gian để giải quyết vụ án ly hôn?
Chào bạn !
Luật Oceanlaw xin tư vấn li dị như sau:
– Bộ luật Tố tụng dân sự có hiệu lực thi hành tính từ ngày 1/1/2005, có một vài quy định mới về quy trình, thời gian xử lý vụ kiện ly hôn, so với Pháp lệnh Thủ tục xử lý những vụ án dân sự, như sau:
Vợ hoặc chồng muốn li dị phải làm đơn, kèm theo các tài liệu như: giấy   kết hôn (bản gốc); bản sao hộ khẩu + CMND của vợ và chồng; bản sao giấy khai sinh con; bản sao chủ quyền tài sản… nộp cho TA. Điểm mới của luật này là cho phép đương sự có thể nộp đơn đến TAND qua đường bưu điện. Ngày khởi kiện được tính từ ngày đương sự nộp đơn tại TA hoặc ngày có dấu bưu điện nơi gửi.
+ Trong thời gian 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn kiện TAND phải thực hiện thụ lý vụ án, tức thông báo để đương sự nộp tiền tạm ứng án phí, tòa án nhân dân thụ lý án khi người khởi kiện nộp cho tòa biên lai nộp tiền tạm ứng án phí. Điểm mới ở đây là thời gian thụ lý được rút ngắn chỉ trong vòng 5 ngày làm việc (luật cũ là 30 ngày).
+ Trong thời hạn 4 tháng kể từ ngày thụ lý, tùy từng trường hợp TA ra một trong một số quyết định sau đây: Công nhận sự thỏa thuận của một số đương sự (đoàn tụ hay ly hôn thuận tình); Tạm đình chỉ xử lý vụ án; Đình chỉ giải quyết vụ án; Đưa vụ án ra xét xử (trường hợp có một bên không đồng ý ly dị hoặc có tranh chấp về con, tài sản).
+ Trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của những đương sự, tòa án phải gửi quyết định đó cho đương sự.
+ Trong thời gian 1 tháng kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử TAND phải mở phiên tòa.
Sau 15 ngày, kể từ ngày xét xử, nếu không có kháng cáo, kháng nghị, án sẽ có hiệu lực thi hành.
Nên, thông thường, tổng thời gian xử lý ly dị  với trường hợp thuận tình ly hôn là trong hạn 130 ngày; ly hôn một phía trong gian 170 ngày.
Hotline tư vấn: 0965 15 13 11

Nguyên tắc khi chia tài sản ly hôn

Sau khi lấy nhau, bố mẹ chồng bà Đức tặng vợ chồng bà một mảnh đất, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên chồng bà. Bà và chồng có hai con chung, 1 con đã có gia đình và ở riêng, một con hiện đang chung sống cùng vợ chồng bà. Vậy, nếu vợ chồng bà ly hôn thì tài sản nhà đất được phân chia như thế nào?

Dịch vụ tư vấn ly hôn

Chia tài sản sau khi ly hôn

Tư vấn quyền nuôi con khi ly hôn
Nguyên tắc  chia tài sản khi ly hôn
Dựa vào quy định, vấn đề phân chia tài sản khi ly hôn do 2 bên thoả thuận, trường hợp không thoả thuận được thì yêu cầu TA giải quyết. Tài sản riêng của phía nào thì thuộc quyền sở hữu của bên đó.
Việc chia tài sản chung được xử lý theo các nguyên tắc sau:
– Tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được phân chia đôi, tuy vậy có xem xét hoàn cảnh của mỗi người, tình trạng tài sản, công sức đóng góp của từng người vào việc tạo lập, duy trì, phát triển tài sản này. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập.
– Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng làm việc và không có tài sản để tự nuôi thân.
– Bảo vệ lợi ích chính đáng của từng người trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để 2 bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập.
– Tài sản chung của vợ chồng được phân chia theo hiện vật hay theo  giá trị, bên nào nhận phần tài sản bằng  hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được nhận thì phải thanh toán cho người kia phần giá trị chênh lệch.
Việc thanh toán nghĩa vụ chung về tài sản của vợ, chồng do vợ, chồng thoả thuận; trường hợp không thoả thuận được thì yêu cầu TAND xử lý.
Trường hợp trên, khi sự việc đúng như bà nêu ra là sau khi lấy nhau, bố mẹ chồng của bà tặng cho chung vợ chồng bà một thửa đất, tuy thế chỉ đăng ký đứng tên chồng bà trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. khi việc đăng ký đó thực hiện trước ngày 18/10/2001, mà vợ chồng không yêu cầu cấp lại để đứng tên cả vợ chồng, thì mảnh đất đó vẫn thuộc quyền sử dụng chung của vợ chồng.
Khi ly dị, trường hợp có tranh chấp là tài sản riêng thì người chồng có tên trong giấy chứng nhận phải chứng minh được tài sản này do được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân hay tài sản này có được từ nguồn tài sản riêng. Nếu người chồng không chứng minh được tài sản đang có tranh chấp này là tài sản riêng, thì tài sản đó là tài sản chung của vợ chồng. Việc chia tài sản chung của vợ chồng, trong đó có quyền sử dụng đất ở, sở hữu nhà ở khi li dị thực hiện theo nguyên tắc phân chia tuy thế có xem xét hoàn cảnh của mỗi người, tình trạng tài sản, công sức đóng góp của mỗi bên vào việc tạo lập, duy trì, phát triển tài sản này.
Trường hợp người chồng có chứng cứ hợp pháp chứng minh được quyền sử dụng đất ở, quyền sở hữu nhà ở mà ông đứng tên trong giấy chứng nhận là tài sản riêng, thì khi li dị quyền sử dụng đất, sở hữu nhà đó thuộc về người chồng. Theo Điều 99 Luật HNGĐ trường hợp nhà ở thuộc sở hữu riêng của người chồng đã được đưa vào sử dụng chung thì khi li dị, nhà ở đó vẫn thuộc sở hữu riêng của người chồng, tuy nhiên phải thanh toán cho người vợ một phần giá trị nhà, căn cứ vào công sức bảo dưỡng, nâng cấp, cải tạo, sửa chữa nhà.
Khi ly dị, nếu hai bên không thỏa thuận được việc phân chia tài sản, yêu cầu Toà án xử lý thì mỗi người cần giao nộp cho TA chứng cứ chứng minh về tài sản chung, tài sản riêng. TAND sẽ đánh giá chứng cứ để phân phân chia theo quy định của luật pháp.
Để được tư vấn cụ thể và chi tiết hãy gọi điện tới Hotline 0965 15 13 11

Những quy định về mang thai hộ

Vợ chồng tôi cưới nhau được 5 năm nhưng Tôi và vợ vẫn chưa có em bé, trong lăm năm này chúng tôi đã đi rất nhiều bệnh viện và uống bao nhiêu loại thuốc dù thế vẫn không có kết quả. Thời gian gần đây có nghe nói tới luật pháp Việt Nam đã cho phép mang thai hộ cho nên Tôi và vợ muốn nhờ người họ hàng xa để nhờ mang thai hộ. Vậy muốn nhờ người mang thai hộ thì chúng tôi phải làm  gì?
Xác nhận mang thai hộ        http://oceanlaw.com.vn/xac-nhan-mang-thai-ho
Điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo        http://oceanlaw.com.vn/dieu-kien-mang-thai-ho-vi-muc-dich-nhan-dao.html
Thủ tục mang thai hộ    http://oceanlaw.com.vn/thu-tuc-mang-thai-ho.html
Tư vấn:
Luật Hôn nhân và gia đình có hiệu lực tính từ ngày 1/1/2015 quy định: Việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo phải được tiến hành trên cơ sở tự nguyện của hai bên và được lập thành văn bản”.
Người nhờ mang thai hộ phải có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về “việc người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản; vợ chồng đang không có con chung; đã được tư vấn về y tế, pháp luật, tâm lý”.
Người được nhờ mang thai hộ cũng phải đáp ứng điều kiện: “Là người thân thích cùng hàng của bên vợ hoặc bên chồng nhờ mang thai hộ; từng sinh con và chỉ được mang thai hộ 1 lần; trong độ tuổi phù hợp và có chứng nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về khả năng mang thai hộ; khi người phụ nữ mang thai hộ có chồng thì phải có sự đồng ý bằng văn bản của  chồng; đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý”.
Từ các quy định trên đây có thể thấy việc vợ chồng bạn nhờ người thân thích mang thai hộ phải xuất phát trên cơ sở tự nguyện của cả hai bên. Người mang thai hộ phải là người họ hàng cùng hàng bên phía vợ hoặc chồng của bạn. Người được nhờ mang thai hộ phải ở độ tuổi sinh đẻ, từng có con và chưa mang thai hộ lần nào.
Thỏa thuận về việc mang thai hộ giữa vợ chồng bạn và người họ hàng nhờ mang thai hộ phải được lập thành văn bản có công chứng bao gồm các nội dung cơ bản như: thông tin đầy đủ về phía nhờ mang thai hộ và bên mang thai hộ; cam kết thực hiện một vài quyền, nghĩa vụ của một vài bên; việc giải quyết hậu quả trong trường hợp có tai biến sản khoa; hỗ trợ để bảo đảm sức khỏe sinh sản cho người mang thai hộ trong thời gian mang thai và sinh con, việc nhận con của bên nhờ mang thai hộ, quyền và nghĩa vụ của hai bên đối với con trong trường hợp con chưa được giao cho bên nhờ mang thai hộ và một số quyền, nghĩa vụ khác có liên quan; trách nhiệm dân sự trong trường hợp 1 hay cả 2 bên vi phạm cam kết theo thỏa thuận.
Trên cơ sở một số thỏa thuận và tự nguyện của 2 bên, bạn chuẩn bị hồ sơ theo hướng dẫn tại Điều 14 Nghị định số 10/2015/NĐ-CP (có hiệu lực từ ngày 15/3/2015) và gửi đến 1 trong một vài cơ sở y tế có có đủ điều kiện về mang thai hộ như: Bệnh viện Phụ sản trung ương; Bệnh viện Đa khoa trung ương Huế; Bệnh viện Phụ sản Từ Dũ TP HCM.
Giấy tờ đề nghị sử dụng kỹ thuật mang thai hộ gồm có:
a) Đơn đề nghị được tiến hành kỹ thuật mang thai hộ theo Mẫu số 04 ban hành kèm theo Nghị định này;
b) Bản cam kết tự nguyện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo theo Mẫu số 05 ban hành kèm theo Nghị định này;
c) Bản cam đoan của người đồng ý mang thai hộ là chưa mang thai hộ lần nào;
d) Bản chứng nhận tình trạng chưa có con chung của vợ chồng do UBND cấp xã nơi thường trú của vợ chồng nhờ mang thai hộ chứng nhận;
đ) Bản chứng nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được sử dụng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm về việc người vợ có bệnh lý, trường hợp mang thai sẽ có nhiều nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng của người mẹ, thai nhi và người mẹ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản;
e) Giấy chứng nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được sử dụng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm đối với người mang thai hộ về khả năng mang thai, đáp ứng quy định đối với người nhận phôi theo quy định tại Khoản 4 Điều 5 Nghị định này và từng sinh con;
g) Bản chứng nhận của UBND cấp xã hoặc người mang thai hộ, người nhờ mang thai hộ tự mình chứng minh về mối quan hệ thân thích cùng hàng trên cơ sở một vài giấy tờ hộ tịch có liên quan và chịu trách nhiệm trước luật pháp về tính chứng thực của một vài giấy tờ này;
h) Bản chứng nhận của chồng người mang thai hộ (trường hợp người phụ nữ mang thai hộ có chồng) về việc đồng ý cho mang thai hộ.
i) Giấy chứng nhận nội dung tư vấn về y tế của bác sỹ sản khoa;
k) Giấy xác nhận nội dung tư vấn về tâm lý của người có trình độ đại học chuyên khoa tâm lý trở lên;
l) Bản chứng nhận nội dung tư vấn về pháp luật của luật sư hoặc luật gia hay người trợ giúp pháp lý;
m) Giấy thỏa thuận về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo giữa vợ chồng nhờ mang thai hộ và bên mang thai hộ theo quy định tại Mẫu số 06 ban hành kèm theo Nghị định này.”
Trên cơ sở giấy tờ đầy đủ bạn gửi, nếu cả hai bên đáp ứng đầy đủ các điều kiện về pháp lý và y học, cơ sở y tế sẽ thực hiện một số thủ tục về mang thai hộ theo quy định của luật pháp.
Về con sinh ra trong trường hợp nhờ mang thai hộ, theo quy định trong Điều 94 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014: “Con sinh ra trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là con chung của vợ chồng nhờ mang thai hộ tính từ thời điểm con được sinh ra”.
Để biết thêm thông tin chi tiết và được xác nhận mang thai hộ của luật sư, hãy gọi điện tới 0903 481 181 để được tư vấn cụ thể hơn

Lập di chúc hợp pháp để lại toàn bộ di sản cho con

“Bố tôi muốn viết di chúc để lại toàn bộ phần đất của ông trong tổng số đất mà bố mẹ tôi đứng tên chung có được không?”.
Anh Nguyễn Văn Hiển ở Bắc Ninh có hỏi:  “Bố tôi đang mắc nặng, dù vậy ông vẫn còn tỉnh táo và minh mẫn, hiện nay ông muốn soạn thảo di chúc để lại cho tôi mảnh|khu|phần|khoảng} đất mà hiện nay cả nhà tôi đang ở và đứng tên bố mẹ tôi. Về phần đất này thì nguồn gốc đất là của cơ quan mẹ tôi chia cho bà từ năm 1995.
Tuy vậy vấn đề là bố tôi và mẹ tôi không có chứng nhận kết hôn mà chỉ về sống chung với nhau như vợ chồng từ năm 1992.
Bố tôi lại có 1 bà vợ cả có đăng ký kết hôn từ những năm 1978. Bà này với bố tôi không có con chung và bố mẹ tôi cũng chỉ có mình tôi là con.
Thưa luật sư tôi muốn hỏi hiện nay có cách nào tốt nhất để tôi được hưởng toàn bộ quyền sử dụng đất của bố tôi không?

Lập di chúc

Tư vấn lập di chúc

Soạn thảo di chúc

Xác nhận di chúc
Trường hợp của bạn luật sư trả lời như sau:
Thứ nhất, theo quy định của luật hôn nhân gia đình năm 2014 và theo quy định của nghị quyết 35/2000/NQ-QH10 về thực hiện Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thì đối với quan hệ vợ chồng của bố và mẹ bạn không được công nhận là hôn nhân thực tế. Bố mẹ bạn sống chung với nhau mà không đăng ký kết hôn sau năm 1987 do đó quan hệ vợ chồng này không là quan hệ hợp pháp. Mặc dù vậy, theo như thông tin bạn chia sẻ thì mảnh đất hiện nay bố mẹ bạn đang ở mặc dù là đất của cơ quan phân cho mẹ bạn tuy vậy khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất việc đưa tên bố bạn vào mẹ bạn đã không có ý kiến phản đối thì đất đó vẫn được coi là tài sản chung.
Thứ hai, người vợ cả của bố bạn là vợ hợp pháp có đăng ký kết hôn do đó người vợ cả vẫn nằm trong hàng thừa kế thứ 1 xét về quan hệ thừa kế theo luật pháp và là người được hưởng di sản không phụ thuộc vào nội dung di chúc theo quy định tại Điều 669 Bộ luật dân sự.
“Điều 669. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc
Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng 2 phần ba suất của 1 người thừa kế theo luật pháp, khi di sản được chia theo luật pháp, đối với trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hay chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn 2 phần 3 suất đó, trừ khi họ là một số người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 642 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 643 của Bộ luật này:
Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;
Con đã thành niên mà không có khả năng lao động”
Đối với trường hợp này, bố bạn hoàn toàn có quyền định đoạt bằng di chúc tài sản của bố bạn trong khối tài sản chung với mẹ bạn mà không phải có sự đồng ý của bà cả. Tuy thế, vì người vợ cả vẫn đang là vợ hợp pháp chính vì thế  giả thiết đặt ra trong di chúc bố bạn không cho bà vợ cả được hưởng thì bà vẫn được 2/3 của một suất thừa kế pheo pháp luật căn Khoản 1, Điều 669, Bộ luật dân sự.
Do đó khi bố bạn lập di chúc để lại toàn bộ tài sản cho bạn thì trường hợp này bạn cũng không được hưởng toàn bộ tài sản như phân tích ở trên.
Do vậy cách để đạt được mục đích như bạn yêu cầu thì bố bạn nên làm hợp đồng tặng cho tài sản. Bố bạn hiện giờ vẫn còn sống và minh mẫn vì thế  việc làm hợp đồng tặng cho tài sản sẽ không gặp vấn đề gì trở ngại và cũng không phải có ý kiến của ai cũng như không bắt buộc phải để lại 1 phần tài sản cho bà cả.
Tuy vậy đối với hợp đồng tặng cho tài sản là bất động sản căn quy định của Điều 467 Bộ luật dân sự thì hợp đồng tặng cho tài sản phải được lập thành văn bản và phải được công chứng, chứng thực. Trường hợp bố bạn gặp khó khăn trong việc đi lại thì gia đình bạn có thể mời công chứng viên đến nhà để có thể lập hợp đồng tặng cho ở nhà.
Như chúng tôi phân tích ở trên, trường hợp của bạn bố bạn hoàn toàn có quyền định đoạt tài sản của mình bằng di chúc hay bằng hợp đồng tặng cho tài sản đều không phải hỏi ý kiến của bà cả. Mặc dù vậy để đạt được mục đích thì bố bạn có thể sử dụng phương án tặng cho bạn bằng hợp đồng tặng cho tài sản.
Để được tư vấn cụ thể và chi tiết hơn bạn hãy gọi tới Hotline 0965 15 13 11 để được những luật sư của chúng tôi tư vấn.

Hỏi về cách lập di chúc để hết tài sản cho con

“Bố tôi muốn viết di chúc để lại toàn bộ phần đất của ông trong tổng số đất mà bố mẹ tôi đứng tên chung có được không?”.
Anh Nguyễn Văn Hiển ở Bắc Ninh có hỏi:  “Bố tôi đang bị bệnh nặng, Nhưng ông vẫn còn tỉnh táo và minh mẫn, hiện giờ ông muốn viết di chúc để lại cho tôi mảnh|khu|phần|khoảng} đất mà hiện nay cả nhà tôi đang sống và đứng tên bố mẹ tôi. Về mảnh đất này thì nguồn gốc đất là của cơ quan mẹ tôi cấp cho bà từ năm 1995.
Tuy thế vấn đề là bố tôi và mẹ tôi không có chứng nhận kết hôn mà chỉ về sống chung với nhau như vợ chồng từ năm 1992.
Bố tôi lại có 1 bà vợ cả có đăng ký kết hôn từ những năm 1978. Bà này với bố tôi không có con chung và bố mẹ tôi cũng chỉ có mình tôi là con.
Thưa luật sư tôi muốn hỏi bây giờ có cách nào tốt nhất để tôi được hưởng toàn bộ quyền sử dụng đất của bố tôi không?

Lập di chúc

Tư vấn lập di chúc

Soạn thảo di chúc

Xác nhận di chúc
Trường hợp của bạn luật sư tư vấn như sau:
Thứ nhất, theo quy định của luật hôn nhân gia đình năm 2014 và theo quy định của nghị quyết 35/2000/NQ-QH10 về thực hiện Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thì đối với quan hệ vợ chồng của bố và mẹ bạn không được công nhận là hôn nhân thực tế. Bố mẹ bạn sống chung với nhau mà không chứng nhận kết hôn sau năm 1987 do đó quan hệ vợ chồng này không là quan hệ hợp pháp. Dù vậy, theo như thông tin bạn chia sẻ thì mảnh đất hiện giờ bố mẹ bạn đang sinh sống tuy là đất của cơ quan phân cho mẹ bạn Tuy thế khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất việc đưa tên bố bạn vào mẹ bạn đã không có ý kiến phản đối thì đất đó vẫn được coi là tài sản chung.
Thứ 2, người vợ cả của bố bạn là vợ hợp pháp có đăng ký kết hôn chính vì vậy người vợ cả vẫn nằm trong hàng thừa kế thứ 1 xét về quan hệ thừa kế theo luật pháp và là người được hưởng di sản không phụ thuộc vào nội dung di chúc theo quy định trong Điều 669 Bộ luật dân sự.
“Điều 669. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc
Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng 2 phần 3 suất của 1 người thừa kế theo pháp luật, khi di sản được chia theo pháp luật, đối với trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hay chỉ cho hưởng phần di sản nhỏ hơn hai phần 3 suất đó, trừ khi họ là một số người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 642 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định ở khoản 1 Điều 643 của Bộ luật này:
Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;
Con đã thành niên mà không có khả năng làm việc”
Trong trường hợp này, bố bạn hoàn toàn có quyền định đoạt bằng di chúc tài sản của bố bạn trong khối tài sản chung với mẹ bạn mà không phải có sự đồng ý của bà cả. Mặc dù vậy, bởi vì người vợ cả vẫn đang là vợ hợp pháp vì vậy  giả thiết đặt ra trong di chúc bố bạn không cho bà vợ cả được hưởng thì bà vẫn được 2/3 của một suất thừa kế pheo pháp luật dựa vào Khoản 1, Điều 669, Bộ luật dân sự.
Do vậy trường hợp bố bạn lập di chúc để lại toàn bộ tài sản cho bạn thì trường hợp này bạn cũng không được hưởng toàn bộ tài sản như phân tích ở trên.
Như vậy cách để đạt được mục đích như bạn yêu cầu thì bố bạn do đó làm hợp đồng tặng cho tài sản. Bố bạn hiện nay vẫn còn sống và minh mẫn do vậy  việc làm hợp đồng tặng cho tài sản sẽ không gặp vấn đề gì trở ngại và cũng không phải có ý kiến của ai cũng như không bắt buộc phải để lại 1 phần tài sản cho bà cả.
Nhưng  với hợp đồng tặng cho tài sản là bất động sản dựa vào quy định của Điều 467 Bộ luật dân sự thì hợp đồng tặng cho tài sản phải được lập thành văn bản và phải được công chứng, chứng thực. Nếu bố bạn gặp khó khăn trong việc đi lại thì gia đình bạn có thể mời công chứng viên đến nhà để có thể lập hợp đồng tặng cho tại nhà.
Như chúng tôi phân tích ở trên, trường hợp của bạn bố bạn hoàn toàn có quyền định đoạt tài sản của mình bằng di chúc hoặc bằng hợp đồng tặng cho tài sản đều không phải hỏi ý kiến của bà cả. Nhưng để đạt được mục đích thì bố bạn có thể áp dụng phương án tặng cho bạn bằng hợp đồng tặng cho tài sản.
Để được tư vấn cụ thể và chi tiết hơn bạn hãy gọi tới Hotline 0965 15 13 11 để được những luật sư của chúng tôi tư vấn.

Ly hôn với người trung quốc như thế nào?

Em kết hôn với công dân lấy chồng Trung Quốc năm 2008, nhưng bởi vì cuộc sống  không  hợp và khác biệt vùng miền nên muốn li dị. Đồng thời, thời gian gần đây em mới biết một số giấy tờ của chồng để làm thủ tục  kết hôn cũng như tiến hành đăng ký khai sinh cho con đều là giấy tờ giả do vậy đã bị nhà nước Trung Quốc tịch thu. Theo em tìm hiểu nếu viết đơn li dị cần phải có giấy tờ của người chồng, cho em hỏi bây giờ không còn giấy tờ đó nữa thì phải thực hiện như thế nào?
Gửi bởi: Nguyễn  Giang

Thủ tục ly hôn đơn phương

Thủ tục ly hôn

Thủ tục ly hôn với người nước ngoài
Tư vấn có tính chất tham khảo
Theo quy định tại khoản 1 Điều 10 Luật hôn nhân và gia đình  2014 thì Người bị cưỡng ép kết hôn, bị lừa dối kết hôn, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền tự mình yêu cầu hoặc đề nghị cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 2 Điều này yêu cầu TA hủy bỏ việc kết hôn trái luật pháp do việc kết hôn vi phạm quy định tại điểm b khoản 1 Điều 8 của Luật này. Việc chồng bạn sử dụng giấy tờ giả thực hiện  kết hôn đã vi phạm hành vi cấm của  Luật hôn nhân và gia đình – cấm lừa  kết hôn.
Đối với trường hợp này, bạn có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền hủy  việc kết hôn không đúng pháp luật. Căn cứ vào quy định ở khoản 3 Điều 33, điểm b khoản 1 Điều 34, điểm b khoản 2 Điều 36 Bộ luật tố tụng dân sự 2004 được sửa đổi, bổ sung 1 số điều bằng Luật số 65/2011/QH12 thì Tòa án có thẩm quyền giải quyết là TA tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi 1 trong nhữn bên đăng ký kết hôn trái luật pháp .
Khi việc kết hôn không đúng luật pháp bị hủy thì các bên kết hôn phải chấm dứt quan hệ  vợ chồng. Quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con được giải quyết dựa vào quy định về quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con khi ly dị. Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết như trường hợp nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn.
Ngoài ra, dựa vào quy định ở Điều 28 Nghị định số 110/2013/NĐ-CP ngày 24/9/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự; phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã thì tùy từng hành vi làm giả giấy tờ để tiến hành thủ tục đăng ký kết hôn mà có thể bị xử phạt vi phạm hành chính từ ba tr  tới 5 triệu .
Hãy liên lạc với hotline 0965 15 13 11 để được tư vấn trực tiếp